treinado – -Translation – Keybot Dictionary

Spacer TTN Translation Network TTN TTN Login Deutsch Français Spacer Help
Source Languages Target Languages
Keybot 10 Results  suttacentral.net
  DN 32: Os Versos Protet...  
treinado na sabedoria, na conduta também,
Ofte har vi hørt det, og derfor sier vi:
  MN 107: O Discurso para...  
Tal como, brâmane, quando um habilidoso treinador de cavalos obtem um magnífico potro puro sangue, ele primeiro faz com que o potro se acostume a usar o cabresto para em seguida acostumá-lo ao treinamento seguinte—da mesma forma, brâmane, quando o Tathāgata recebe um discípulo para ser treinado ele inicialmente o disciplina da seguinte forma: ‘Venha Bhikkhu, seja virtuoso, contido pelas regras do Pātimokkha, seja perfeito na conduta e na sua esfera de atividades, temendo a menor falha, treine adotando os preceitos de virtude.’
Này Bà-la-môn, sau khi Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: “Hãy đến Tỷ-kheo, hãy chú tâm cảnh giác! Ban ngày trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban đêm trong canh đầu, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban đêm trong canh giữa, hãy nằm xuống phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, chân gác trên chân với nhau, chánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy lại. Ban đêm trong canh cuối, khi đã thức dậy, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp”.
“බ්‍රාහ්මණය, යම් තැනක පටන් මහණතෙම ඉඳුරන්හි රක්නාලද දොරටු ඇත්තේ වේද, ඔහු තථාගත තෙම මත්තෙහි හික්මවයි. ‘මහණ, එව. නුඹ භොජනයෙහි පමණ දක්නෙක් වෙව. නුවණින් සලකා ආහාරය ගණුව. ක්‍රීඩා පිණිස නොවේ. මද වැඩීම පිණිස නොවේ. සැරසීම පිණිස නොවේ. අලංකාර කිරීම පිණිස නොවේ. යම්තාක්ම මේ ශරීරයාගේ පැවැත්ම පිණිස යැපීම පිණිස විහිංසා වැලැක්ම පිණිස බ්‍රහ්මචර්‍ය්‍යාවට අනුග්‍රහ පිණිස වේ. මෙසේ පැරණිවූ වේදනාවද නසමි. අළුත් වෙදනාවද නූපද වන්නෙමි. මාගේ ජීවිත යාත්‍රාවද නිරවද්‍ය භාවයද පහසු විහරණයද වන්නේයයි (ආහාර ගනුව යනුවෙනි)
  MN 44: A Pequena Seqüên...  
“Nesse caso, amigo Visākha, Visākhā, um nobre discípulo bem instruído, que respeita os nobres, que é proficiente e treinado no Dhamma deles, que respeita os homens verdadeiros, que é proficiente e treinado no Dhamma deles, não considera a forma material como sendo o eu, ou o eu como possuído de forma material, ou a forma material como estando no eu, ou o eu como estando na forma material. Ela não considera a sensação como sendo o eu, ou o eu como possuído de sensação, ou a sensação como estando no eu, ou o eu como estando na sensação. Ela não considera a percepção como sendo o eu, ou o eu como possuído de percepção, ou a percepção como estando no eu, ou o eu como estando na percepção. Ela não considera as formações volitivas como sendo o eu, ou o eu como possuído de formações volitivas, ou as formações volitivas como estando no eu, ou o eu como estando nas formações volitivas. Ela não considera a consciência como sendo o eu, ou o eu como possuído de consciência, ou a consciência como estando no eu, ou o eu como estando na consciência. Assim é como não surge a idéia da identidade.”
“He aquí, amigo Visakha, un bien instruido noble discípulo, que tiene en consideración a los nobles, es hábil y disciplinado en su Dhamma, tiene en consideración a los hombres veraces, es hábil y disciplinado en su Dhamma, no considera la forma como el yo, el yo como el poseedor de la forma, la forma como en el yo ni el yo como en la forma. Tampoco considera la sensación como el yo, el yo como el poseedor de la sensación, la sensación como en el yo ni el yo como en la sensación. Tampoco considera la percepción como el yo, el yo como el poseedor de la percepción, la percepción como en el yo ni el yo como en la percepción. Tampoco considera las formaciones mentales como el yo, el yo como el poseedor de las formaciones mentales, las formaciones mentales como en el yo ni el yo como en las formaciones mentales. Tampoco considera la conciencia como el yo, el yo como el poseedor de la conciencia, la conciencia en el yo ni el yo como en la conciencia. Es así cómo no llega a haber el punto de vista sobre la identidad.”
—Ở đây, Hiền giả Visākha, vị Ða văn Thánh đệ tử đến yết kiến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đến yết kiến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân, không xem sắc là tự ngã, không xem tự ngã là có sắc, không xem sắc là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong sắc; không xem thọ là tự ngã, không xem tự ngã là có thọ, không xem thọ là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong thọ; không xem tưởng là tự ngã, không xem tự ngã là có tưởng, không xem tưởng là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong tưởng; không xem các hành là tự ngã, không xem tự ngã là có các hành, không xem các hành là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong các hành; không xem thức là tự ngã, không xem tự ngã là có thức, không xem thức là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong thức. Như vậy, Hiền giả Visākha, là không có thân kiến.
  MN 44: A Pequena Seqüên...  
“Nesse caso, amigo Visākha, Visākhā, um nobre discípulo bem instruído, que respeita os nobres, que é proficiente e treinado no Dhamma deles, que respeita os homens verdadeiros, que é proficiente e treinado no Dhamma deles, não considera a forma material como sendo o eu, ou o eu como possuído de forma material, ou a forma material como estando no eu, ou o eu como estando na forma material. Ela não considera a sensação como sendo o eu, ou o eu como possuído de sensação, ou a sensação como estando no eu, ou o eu como estando na sensação. Ela não considera a percepção como sendo o eu, ou o eu como possuído de percepção, ou a percepção como estando no eu, ou o eu como estando na percepção. Ela não considera as formações volitivas como sendo o eu, ou o eu como possuído de formações volitivas, ou as formações volitivas como estando no eu, ou o eu como estando nas formações volitivas. Ela não considera a consciência como sendo o eu, ou o eu como possuído de consciência, ou a consciência como estando no eu, ou o eu como estando na consciência. Assim é como não surge a idéia da identidade.”
“He aquí, amigo Visakha, un bien instruido noble discípulo, que tiene en consideración a los nobles, es hábil y disciplinado en su Dhamma, tiene en consideración a los hombres veraces, es hábil y disciplinado en su Dhamma, no considera la forma como el yo, el yo como el poseedor de la forma, la forma como en el yo ni el yo como en la forma. Tampoco considera la sensación como el yo, el yo como el poseedor de la sensación, la sensación como en el yo ni el yo como en la sensación. Tampoco considera la percepción como el yo, el yo como el poseedor de la percepción, la percepción como en el yo ni el yo como en la percepción. Tampoco considera las formaciones mentales como el yo, el yo como el poseedor de las formaciones mentales, las formaciones mentales como en el yo ni el yo como en las formaciones mentales. Tampoco considera la conciencia como el yo, el yo como el poseedor de la conciencia, la conciencia en el yo ni el yo como en la conciencia. Es así cómo no llega a haber el punto de vista sobre la identidad.”
—Ở đây, Hiền giả Visākha, vị Ða văn Thánh đệ tử đến yết kiến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đến yết kiến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân, không xem sắc là tự ngã, không xem tự ngã là có sắc, không xem sắc là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong sắc; không xem thọ là tự ngã, không xem tự ngã là có thọ, không xem thọ là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong thọ; không xem tưởng là tự ngã, không xem tự ngã là có tưởng, không xem tưởng là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong tưởng; không xem các hành là tự ngã, không xem tự ngã là có các hành, không xem các hành là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong các hành; không xem thức là tự ngã, không xem tự ngã là có thức, không xem thức là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong thức. Như vậy, Hiền giả Visākha, là không có thân kiến.
  MN 12: O Grande Discurs...  
Tal como um arqueiro habilidoso, treinado, experto e testado, poderia com facilidade atirar uma flecha de luz que atravessasse a sombra de uma palmeira, suponha que da mesma forma eles fossem perfeitos na atenção plena, memória, narrativa e sabedoria lúcida.
“Sariputta, existen ciertos ascetas y brahmanes cuya doctrina y punto de vista es este: ‘mientras este buen hombre es todavía joven, hombre de cabello negro dotado de la bendición de la juventud, en la primicia de la vida, es todavía perfecto en su lúcida sabiduría. Pero, cuando ese buen hombre llega a ser viejo, anciano, consumido por lo años, avanzado en la edad, cuando llega a la última etapa de su vida, siendo un hombre de ochenta, noventa o cien años, entonces la lucidez de su sabiduría se pierde’. Pero esto no se puede considerar en relación a mí. Soy viejo, anciano, consumido por lo años, avanzado en la edad, llegué a la última etapa de mi vida y tengo ochenta años. Imagina que tuviera cuatro discípulos de cien años de edad, perfectos en la atención consciente, con gran capacidad de retención, buena memoria y lucidez de sabiduría. Al igual que un hábil arquero que entrena, practica y se somete a pruebas, es capaz de disparar una flecha luminosa a través de la sombra de una palmera, así ellos están perfectos en la atención consciente, con gran capacidad de retención, buena memoria y lucidez de sabiduría. E imagina, Sariputta, que ellos me preguntasen continuamente acerca de los cuatro establecimientos de la atención consciente y yo les respondiese, cada vez que me preguntaran de tal manera, que recordarían cada una de mis respuestas y nunca preguntarían sobre cuestiones secundarias ni harían las pausas, salvo para comer, beber, ingerir alimentos, saborearlos, orinar, defecar y descansar con el fin de remover la somnolencia y el cansancio. Aún así, Sariputta, la exposición del Dhamma por parte del Tathagata, su exposición de los factores del Dhamma y sus respuestas a las preguntas, podrían no llegar a su fin, porque estos cuatro discípulos míos de cien años de edad, podrían haber muerto antes, al finalizar aquellos cien años. Sariputta, aún en el momento en que me llevases a mi lecho de muerte, no estaría cambiando la lucidez de sabiduría del Tathagata.