nettement – Vietnamese Translation – Keybot Dictionary

Spacer TTN Translation Network TTN TTN Login Deutsch Français Spacer Help
Source Languages Target Languages
Keybot      14 Results   11 Domains
  www.safco.com.sa  
L'un de nos partenariats les plus réussis est avec ASL19 qui propose des traductions et des services de soutien en persan, et qui a nettement contribué à nous aider à accroître notre auditoire.
Một trong những đối tác thành công của chúng tôi là ASL19, đã chuyển ngữ và hỗ trợ cho ngôn ngữ Farsi, và đóng phần quan trọng trong việc gia tăng số người dùng.
  cars.airbaltic.com  
Prix nettement inférieur à celui d'autres compagnies, voiture propre, bon état, personnel compétent
So sánh Chúng tôi đưa ra cho bạn những thỏa thuận và đánh giá cần thiết để bạn có thể lựa chọn
  2 Hits securityinabox.org  
Le nombre des fonctions incluses dans les téléphones mobiles a nettement augmenté au cours des dernières années. Les nouveaux appareils sont en fait des mini-ordinateurs portables capables de se connecter à Internet et présentant des fonctions de téléphonie mobile.
Mạng di động thường là các mạng riêng được sở hữu và vận hành bởi các nhân tố thương mại, có thể nằm dưới sự kiểm soát độc quyền của chính quyền. Nhân tố thương mại này (có thể là chính quyền), thực tế có quyền tối đa truy cập thông tin và liên lạc của khách hàng cũng như khả năng truy cập, can thiệp các cuộc gọi, tin nhắn hay giám sát vị trí của thiết bị liên lạc (nghĩa là vị trí người sử dụng thiết bị đó)
  www.bazatatry.com  
sur l’intégration des villes vietnamiennes sous cette rubrique : cette catégorisation, avec ses variations sur le registre des spécifi- cités culturelles, spatiales, morphologiques, était fréquemment associée à l’idée d’une croissance démographique sans croissance économique et aux problèmes urbains en résultant – ce qui n’est à l’évidence pas le cas du Việt Nam aujourd’hui, où les problèmes urbains sont plus nettement associés à la croissance économique et aux formes que celle-ci adopte.
Trong xu hướng phân tích đô thị theo quan điểm thống kê định lượng hiện nay, cách tiếp cận đô thị trong tính phức hợp của nó có vẻ bị tác động lớn – Philippe Papin đã có lý khi nhắc nhở chúng ta rằng «đô thị là công việc của định tính nhiều hơn là định lượng»; nhưng bản thân việc thiết lập các cơ sở dữ liệu định lượng chung, dù cần thiết, lại vấp phải chính các vấn đề liên quan đến việc đưa ra được một định nghĩa đô thị (việc đưa ra một con số quá cao so với thực tế về tỷ lệ đô thị hóa theo thống kê của Liên hiệp quốc ở các nước đang trong quá trình chuyển đổi ở Đông Nam Á có thể là kết quả của việc chỉ dựa vào con số thống kê được ở các đơn vị hành chính có quy mô lãnh thổ lớn, như đơn vị cấp tỉnh mà không tính tới các đơn vị nhỏ hơn ở cấp thấp hơn, đặc biệt các thị trấn, thị tứ ở các huyện hoặc xã nông thôn ở trong các đơn vị cấp tỉnh đó). Điều này được đề cập đặc biệt rõ ràng trong tham luận của Irène Salenson: ngoài những đặc điểm mang tính chất vật lý thực thể, xã hội và chức năng riêng của từng đô thị, chúng ta còn phải xem xét đến tính xác đáng trong việc phân loại theo kiểu nhóm «các đô thị phía Nam», trong đó, có xu hướng xếp các đô thị Việt Nam vào trong nhóm này: việc phân loại như vậy, tất nhiên cùng với những đặc điểm riêng về đặc thù văn hóa, không gian, diện mạo, thường được gắn với ý tưởng cho rằng các đô thị này chủ yếu chỉ tăng trưởng về dân số mà không có sự tăng trưởng về kinh tế và các hệ quả đi kèm – nhưng đây lại không phải là vấn đề mà các đô thị Việt Nam hiện nay đang gặp phải, bởi vì các vấn đề đô thị ở Việt Nam hiện nay rõ ràng là có liên quan đến tăng trưởng kinh tế và các hình thức tăng trưởng. Ngược lại, đối với các vấn đề môi trường, khí hậu, nguy cơ đối mặt với thiên tai (ví dụ trường hợp thành phố Cần Thơ phải đối mặt với tác động của chính sách quy hoạch đô thị nhỏ gọn tới sinh kế của người dân), Irène Salenson đưa ra một hướng suy nghĩ mới tới các khía cạnh mới trong phân loại đô thị, dưới góc độ các vấn đề chung có liên quan đặc biệt tới tình trạng thiếu hụt hạ tầng, dịch vụ đô thị cơ bản và nhà ở. Theo đó, tác giả đã gắn với một khía cạnh quan trọng mà chúng ta có thể gọi là «phát triển đô thị bền vững», nhìn nhận một cách toàn diện và có sự liên kết giữa các vấn đề chuyên biệt của từng lĩnh vực; cách tiếp cận như vậy cũng giống với lập luận của Fanny Quertamp và Emmanuel Cerise khi hai tác giả đề xuất một cách lập kế hoạch đô thị mang tính chiến lược hơn, nhưng linh hoạt hơn đồng thời vẫn đảm bảo được chất lượng đô th